Lịch âm và những điều cần biết

Lịch âm và những điều cần biết

Âm lịch Việt Nam mà  chúng ta thường sử dụng có lịch sử từ rất lâu đời. Từ những nền văn minh đầu tiên của nhân loại như sumeria đến Ai cập, Trung Hoa  đều sử dụng Âm lịch để đo đếm thời gian.  Bởi lẽ, con người không thể tồn tại và phát triển nếu tách rời mội trường không gian và thời gian. Vì vậy , từ hàng ngàn năm nay, con người đã phát minh ra phép tính lịch và làm lịch.

Lịch vốn dĩ đã rất quen thuộc với đời sống con người, là phương tiện quan trọng để con người quản lý thời gian và tổ chức cuộc sống. Lịch là sản phẩm khoa học của loài người và gắn bó với cuộc sống thường ngày của loài người. Tuy vậy, những vấn đề liên quan đến lịch pháp lại không hề đơn giản, đó là lý do mà thực tế nhiều người có nhận thức khá mơ hồ về lịch và phép làm lịch.

Các loại lịch bao gồm: Âm lịch,Dương lịch, Âm - Dương lịch, Lịch Can Chi.

Âm lịch hay còn gọi là Lịch Mặt Trăng, dựa trên cơ sở là vòng quay của Mặt Trăng quanh Trái Đất. Mỗi tháng có số ngày xấp xỉ với tuần Trăng là 29,53 ngày. Tháng thiếu có 29 ngày, tháng đủ có 30 ngày. Một năm Âm lịch có 12 tháng. Theo đó một năm Âm lịch có 29,530588 ngày x 12  = 354,36706 ngày. Để dễ tính toán, con người quy định năm thường Âm lịch có 353 ngày, năm nhuận có 355 ngày. Có nhiều cách tính năm nhuận. Nhưng phổ biến có hai cách. Cách của người Thổ Nhĩ Kì tính cứ 8 năm thì có 3 năm nhuận vào năm thứ 2, 5 và 7. Cách tính thứ hai của người Ả Rập, trong 33 năm có 11 năm nhuận, vào các năm: 2, 5, 7, 10, 13, 16, 18, 21, 24, 26 và 29. Trong thực tế, có rất nhiều loại Âm lịch khác nhau, chủ yếu xuất hiện ở Bắc Phi và Tây Á.

Con người lấy vòng quanh của Trái Đất quanh Mặt Trời để tính toán phép làm lịch. Qua nghiên cứu thiên văn, họ tính ra một năm có 360 ngày, chia làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày. Các tháng được đặt tên theo các vị thần. Bằng quan sát và tính toán họ nhận thấy năm Mặt Trời đúng ra khoảng 365 ngày. Để khỏi phải thay đổi lịch, họ thêm 5 ngày vào cuối năm, coi đó là ngày của các vị thần.

So với năm Mặt Trời, lịch này mỗi năm thiếu mất 1/4  ngày, 4 năm hụt mất 1 ngày, 120 năm hụt mất 1 tháng. Ai Cập đã nhận thấy sự thiếu chính xác này. Thế kỉ III TCN, vua Ptoléméc III đã kí một đạo luật ngày 7/3/283 TCN, quy định cứ 4 năm có một năm nhuận để điều chỉnh lịch cho đúng.

Âm - Dương lịch là sự kết hợp giữa lịch Mặt Trăng và lịch Mặt Trời. Vì âm lịch dẫn đến những sai lệch với thời tiết và mùa vụ trong năm, thường hụt mất 10, 11, 12 ngày . Để khắc phục nhược điểm này, người ta đã tạo ra loại lịch gọi là Âm – Dương lịch. Lịch này lấy cốt lõi là Âm lịch, nghĩa là chọn số ngày, tháng xấp xỉ tuần Trăng, nhưng để mùa màng phù hợp với thời tiết, người ta phải đưa thêm yếu tố Dương lịch vào và chọn số tháng để xấp xỉ với năm Mặt Trời, như vậy người ta phải đặt ra tháng nhuận. Năm thường có 12 tháng, năm nhuận có 13 tháng.

Lịch Can Chi ở một số nước phương Đông như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản… dùng để xác định thời gian theo một chu kì chặt chẽ.. Lịch Can Chi lấy hệ đếm 60 làm cơ sở cùng với những chu kì nhỏ hơn lấy ước số của 60 làm cơ sở là 10 và 12.

Nói về quá trình xuất hiện của lịch Can Chi, có thuyết cho rằng lịch này xuất hiện vào thời nhà Thương bên Trung Quốc (khoảng thế kỉ XVI TCN). Những dấu vết còn lại trên xương thú, mai rùa (văn tự giáp cốt). Trước thời Đông Hán (khoảng năm 103 TCN) chỉ dùng Can Chi để nghi ngày. Sau thời Kiến Vũ (25 – 40), mới bắt đầu dùng Can Chi để ghi cả năm, tháng, ngày, giờ. Lịch Can Chi gọi đầy đủ là Thiên Can, Địa Chi.

Vậy thì Âm lịch Việt nam so với thế giới khác nhau ra sao ?

Âm lịch Việt Nam được ra đời đúc kết từ những kinh nghiệm sâu sắc sản xuất nông nghiệp và trong đời sống hàng ngày dựa trên thiên văn và khoa về phép làm lịch.

Nghiên cứu cho thấy, trên trống đồng Đông Sơn, giữa mặt trống là hình mặt trời tỏa sáng, mặt trống và tang trống có hoa văn chim bay, thú chạy đều ở trên những vành tròn, ngược chiều kim đồng hồ. Đó chính là hướng chuyển động của Mặt Trời, Trăng, Sao trên bầu trời. Bốn con cóc trên trống đồng nói lên bốn mùa trong năm, hoặc bốn cặp nam nữ đang giao cấu trên nắp thạp đồng Đào Thịnh với khổ người bằng nhau hoặc to nhỏ khác nhau, đó chính là biểu tượng của Âm – Dương – ngày đêm của các tiết Xuân phân, Thu phân (ngày đêm bằng nhau), ngày Hạ chí (ngày dài đêm ngắn) và Đông chí (ngày ngắn đềm dài).

Người Việt từ khi giành lại nền độc lập tự chủ sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, cùng với sự tiếp thu Nho giáo và văn hóa Hán, các triều đại phong kiến Việt Nam thường học phép làm lịch Âm – Dương và lịch Can Chi của Trung Quốc. Tuy nhiên vì những lí do lịch sử khác nhau, có lúc lịch Việt Nam giống lịch Trung Quốc, có lúc lại khác. Từ năm 1967 Nhà nước ta ban hành Âm – Dương lịch, lấy theo múi giờ thứ 7 (Âm – Dương lịch Trung Quốc lấy theo múi giờ 8). Âm - Dương lịch này được dùng cho tới ngày nay.